Đến thăm Quảng Trị, có những
địa danh lịch sử mà bạn không thể không đến thăm:
Nghĩa trang Trường Sơn là nơi an nghỉ của biết bao chiến
sĩ anh dũng, Thành cổ Quảng Trị với những câu chuyện
cảm động về người lính, cầu Hiền Lương và hình ảnh
mẹ bồng con ngóng trông về miền bắc, và Địa đạo
Vịnh Mốc đã che chở cho bà con và cán bộ chiến sĩ
những ngày bom đạn oanh tạc. May mắn khi đến Quảng Trị
là chúng tôi gặp được anh lái xe rất nhiệt tình, đã
đưa đoàn chúng tôi đi thăm quan tất cả những nơi ấy.
Nghĩa trang Trường Sơn
Mục tiêu đầu tiên của chúng
tôi trong chuyến đi này là vào thăm nghĩa trang Trường
Sơn. Sau khi thưởng thức món bún bò dân dã của bác chủ
quán quen với anh lái xe và không bị “chặt chém”,
chúng tôi theo con đường nhựa tiến thẳng nghĩa trang
Trường Sơn. Buổi sáng, khu nghĩa trang vẫn còn sương
phủ, chúng tôi leo lên tượng đài chính thắp hương.
Cảnh nơi đây đẹp và yên bình, các anh chị đã hi sinh
có lẽ cũng phần nào an ủi. Cùng lên với chúng tôi còn
có một đoàn các bác các cô trong Nam ra, đi đông lắm,
hình như là thắp hương cho cả người nhà. Chúng tôi đi
dạo một vòng khá lâu tại nghĩa trang, mục đích là tìm
để thắp nén hương cho những người đồng hương,cùng
tỉnh, cùng huyện. Bạn ở Nam Định, bạn quê Hải Phòng,
bạn ở Hà Nội. Có mỗi mình tôi ở Hà Tây, tìm mãi
chẳng thấy, lúc ra gần đến cửa vào, mới thấy biển
Hà Nội nữa. Hóa ra thay đổi hành chính rồi, nên các cụ
cũng được update thông tin. Xã của tôi cũng có tới 3
người đang yên nghỉ ở nơi đây.
Mỗi khu, tỉnh đều xây những
tượng đài hoặc biểu tượng mang đặc trưng cho khu vực,
tỉnh đó. Hà Nội được đặt ngay gần tượng đài
trung tâm. Cột cờ, tháp bút, chùa Một Cột, nhìn có thể
nhận ra ngay. Tại khu mộ của Hà Nội còn có điều đặc
biệt là có những điếu thuốc đặt trên bia mộ. Có lẽ
đó là do đồng đội tặng cho nhau, trai Hà Nội ngày ấy
đúng là phong lưu thật.
Chúng tôi cũng qua thắp hương ở
khu mộ vô danh. Chú ý đọc tên tuổi, năm sinh của các
anh chị ấy, mới thấy là họ đều còn quá trẻ, bằng
tuổi chúng tôi bây giờ, đang là sinh viên đại học. Hi
sinh ở tuổi xuân đang phơi phới, lí tưởng vì Tổ quốc
của các anh chị thật đáng khâm phục.
Cảm giác đọng lại với chúng
tôi nhiều nhất có lẽ là sự tàn ác của chiến tranh.
Khu Thanh-Nghệ-Tĩnh có lẽ là đông mộ liệt sĩ nhất.
Mỗi tỉnh đã trên dưới 1000 liệt sĩ ghi danh trên bia.
Thật rùng mình. Họ hi sinh phần lớn vào năm 68,69 và 72.
Ai cũng còn trẻ cả.
Ra về, chúng tôi không cảm thấy
bi thương, một chút gì đó thấy mình hạnh phúc, và cầu
chúc cho hương hồn anh chị liệt sĩ được yên nghỉ.
Nơi đây thật mát mẻ, trong lành như một khu nghỉ dưỡng
đặc biệt.
Cầu Hiền Lương
Không nằm trong
lịch trình, nhưng được anh lái xe giới thiệu nên chúng
tôi có ghé thăm cầu Hiền Lương. Cầu bắc qua sông Bến
Hải hiền hòa chảy, hiện không còn sử dung nữa, mà nằm
song song với cầu mới. Cầu cắm cờ đỏ rợp hai bên,
vẫy vẫy trong gió. Đến nơi đây, có nhiều thứ vẫn
gợi cho người ta nhớ đến quá khứ đau thương. Phía bờ
nam là tượng đài mẹ bồng con nhìn về phía bắc, nơi
chồng con họ đi tập kết, hình ảnh đất nước chia cắt
trong đau thương. Bên cạnh là hình ảnh chiếc lá dừa
tượng trưng cho cả miền Nam đang trông ngóng ngày đoàn
tụ. Hai đầu cầu, hai chiến tuyến, họ đặt những
chiếc loa rất to. Nghe anh lái xe nói, thì tại đây, trong
những năm 54-75,ngày nào cũng diễn ra chiến tranh tiếng
nói giữa hai chiến tuyến. Bên bờ bắc, nơi đây trở
thành bảo tàng. Chúng tôi vào thăm, nhưng chẳng có người
soát vé, có lẽ do ít người qua lại nơi đây nên họ
cũng không cần phải mất nhiều công trông giữ lắm. Vẫn
có 2 chiếc loa rất to đặt ngòai cửa vào bảo tàng. Đối
diện là cột cờ, cũng rất to. Cột cờ này cùng với
cầu Hiền Lương là nhân chứng lịch sử cho bao nhiêu
cuộc đánh phá của quân đội Mỹ-ngụy.
Đứng trên cầu,
gió thổi theo chiều chảy dòng sông Bến Hải. Nhìn về
phía bắc, vẫn còn chiếc cổng chào ghi tên Nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa. Đúng là Quảng Trị, đi rồi mới
thấy chiến tranh ác liệt phần nào, chứ chỉ đọc sách
lịch sử thì khó mà cảm nhận được.
Địa đạo Vịnh Mốc
Địa đạo Vịnh Mốc thuộc thôn
Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng
Trị, trong khoảng thời gian từ 1965-1972, đã cùng bà con
nơi đây và chiến sĩ chiến đấu với phương châm “Một
tấc không đi, một li không rời. Một làng, xã là một
pháo đài”. Trong suốt những năm này, Vĩnh Linh là địa
điểm bị bom đạn oanh tạc khủng khiếp, tổng cộng hơn
nửa triệu tấn bom đạn các loại. Tính bình quân, mỗi
người dân Vĩnh Linh đã phải gánh chịu 7 tấn bom đạn
của Mỹ.
Đi
thăm địa đạo Vịnh Mốc ngày nay, phía trên mặt đất,
chúng tôi còn gặp nhiều hố bom đang được che mát dưới
bóng tre hay những hầm chữ A vẫn còn vết tích bom đạn.
Các lối đi chạy dọc theo lối địa đạo bên dưới
lòng đất. Ðể bảo đảm cho hàng trăm con người ăn, ở,
sinh hoạt an toàn, tiện lợi, dọc hai bên đường hầm
người ta xây dựng rất nhiều căn hộ, mỗi căn hộ đủ
chỗ cho ba đến bốn người ở. Trong lòng địa đạo có
ba giếng nước, một hội trường (với sức chứa 50
người), bệnh xá, nhà hộ sinh, trạm phẫu thuật, bếp
Hoàng Cầm, kho gạo, trạm đặt máy điện thoại.
Địa
đạo gồm 3 tầng. Tầng thứ nhất sâu 12m, dùng cho sinh
hoạt. Trên lối đi, có các khoang đào sâu vào trong, xếp
1 chiếc giường, đó là nhà dành cho gia đình 4 người ở.
Chúng tôi có hỏi vui anh hướng dẫn viên là “Sao không
có cửa nhỉ?” Anh nói: “Được thế này là tốt lắm
rồi. Cửa cũng không để làm gì. Vì tối thế này, có
ai nhìn thấy ai đâu mà lo”. Có cả phòng hộ sinh và tại
đây, ở địa đạo này cũng đón sự ra đời của tất
cả 17 em bé. Phòng họp tầng 2 rất nhỏ, có chăng là
nới rộng hơn lối đi một chút. Nếu không phải anh
hướng dẫn viên giới thiệu, thì chắc chúng tôi cũng
không tin đây là phòng cho 40 người họp. 6 người (5
người chúng tôi và anh hướng dẫn viên) đã khiến tôi
thấy cảm giác chật rồi. Tầng cuối cùng, sâu 23m, dùng
để tránh bom, có lối trượt xuống mà chúng tôi không
nhìn rõ được. Chỉ có một lỗ khá nhỏ trên lối đi
tầng 2, và một tấm ván đặt lên để tránh khách du
lịch bị lọt xuống.
Có
tất cả 13 cửa, vừa là cửa ra vào, vừa là lỗ thông
hơi, 7 cửa thông ra biển và 6 cửa thông lên đồi.Đia
đạo có cửa được bố trí hợp lí, nên gió thông rất
tốt. Đi trong địa đạo mà không thấy nóng, sờ tay vào
đất sét còn thấy mát lạnh. Mặc dù đã qua mấy chục
năm, nhưng không khí làm cho đất sét ngày càng trở nên
cứng rắn hơn, nên gần như không thấy dấu hiệu của
thời gian. Thỉnh thoảng mới gặp một vài đám rêu nhỏ
ở những chỗ thắp ngọn đèn nhỏ, và hầu như bề mặt
bên trong địa đạo còn nguyên vẹn.
Dọc
theo lối đi còn có những rãnh nhỏ ở ven để cho nước
thoát ra ngoài khi trời mưa. Các cửa đều cao hơn biển
nên dù mưa cũng không sợ ngập. Theo lời anh hướng dẫn
viên, chỉ cần ra khỏi cửa thông về biển là có sẵn
thuyền, đề phòng trường hợp bị truy đuổi. Các thuyền
này cũng có nhiệm vụ t iếp tế cho đảo Cồn Cỏ cách
đó không xa.
Thành
cổ Quảng Trị
Đây
là địa điểm cuối cùng chúng tôi đến thăm, trước
khi lại chạy xe vào Huế. Đoàn chúng tôi chỉ có 5 người,
nên cứ theo chân một đoàn các bác cựu chiến binh, từ
thủ đô Hà Nội, vào thăm chiến trường xưa, để được
nghe giới thiệu. Các bác thấy mấy đứa thanh niên đi
thăm chốn này, có vẻ có cảm tình. Lúc dâng hương và
vòng hoa, các bác còn gọi chúng tôi vào cùng. Thế là
chúng tôi, tuy không chuẩn bị, nhưng vẫn được thắp
nén hương, tưởng nhớ các chiến sĩ đã hi sinh.
Lại
thêm một lần nữa, chúng tôi hiểu thêm về sự tàn khốc
của chiến tranh. Chẳng biết vì chất giọng xứ Quảng
hay nội dung quá cảm động mà chúng tôi ai nấy đều
rưng rưng nước mắt khi nghe các anh chị hướng dẫn viên
kể lại. Đọng lại sâu sắc nhất là trích dẫn từ bức
thư & nhật kí của hai anh chiến sĩ đã hi sinh. Hai
người đều là những người con vùng đồng bằng sông
Hồng, với tinh thần, lí tưởng hi sinh cho Tổ quốc, họ
đã chuẩn bị sẵn những lời trăn trối yêu thương, đầy
trách nhiệm từ biệt gia đình. Phải nói là rất cảm
động, không thể cầm nổi nước mắt khi nghe những lời
ấy.
Đó
chỉ là những ví dụ trong số phận của bao nhiêu chiến
sĩ đã hi sinh trong 81 ngày đêm giữa quân đội nhân dân
Việt Nam và quân lực Việt Nam cộng hòa mùa hè năm 1972.
Với diện tích không lớn, chỉ mất vài chục phút đi
bộ, nhưng mỗi nắm đất thành cổ Quảng Trị đều chứa
trong đó máu và xương của những người con anh dũng.
Người ta không thể khai quật tìm xác, vì bom đạn đã
gần như san phẳng thành cổ. Cũng trong trận chiến này,
không ít chiến sĩ đã hi sinh trên dòng sông Thạch Hãn vì
mưa to, nước lũ. Có người còn chết vì kẹt trong hầm,
không thể ra được. Người chị hướng dẫn viên còn
đọc thêm mấy câu thơ, khi đang thuyết trình về trận
đánh thành cổ Quảng Trị, nghe mà thương lắm:
“Đò
lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ.
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng nước.
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng nước.
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”
Kết
Thanh
niên chúng tôi hiểu về chiến tranh không nhiều, cũng ít
khi tham khảo tài liệu nghiên cứu về vấn đề chiến
tranh hay lịch sử. Chuyến đi không dự tính trước lại
mang đến nhiều suy ngẫm, nhiều cảm xúc hơn cho riêng
tôi, cũng như những bạn đồng hành. Thêm yêu đất nước,
con người Việt Nam mình.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét